NỘI DUNG TUYÊN TRUYỀN PHÁP LUẬT
LĨNH VỰC LÂM NGHIỆP
1. Về Chủ rừng và giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Chủ rừng:
- Lâm trường Xuân Lộc được thành lập theo Quyết định 1232/QĐ-UBT ngày 24/12/1977 của Chủ tịch UBND Tỉnh Đồng Nai; đến năm 2007, Lâm trường Xuân Lộc được chuyển đổi thành Ban quản lý rừng phòng hộ Xuân Lộc theo Quyết định 604/QĐ-UBND ngày 16/3/2007 của UBND tỉnh Đồng Nai, thực hiện chức năng nhiệm vụ: Quản lý bảo vệ rừng; phát triển rừng; sản xuất kinh doanh dịch vụ nông lâm nghiệp trên diện tích được Nhà nước giao quản lý.
- Trước đây, lâm phận Ban Quản lý rừng phòng hộ Xuân Lộc (gọi tắt BQL) được UBND tỉnh Đồng Nai (nay là UBND thành phố Đồng Nai) phê duyệt quy hoạch ba loại rừng gồm hai vùng: Phòng hộ và sản xuất. Toàn bộ diện tích đã được xác định rõ trên bản đồ và trên thực địa, đều nằm trong ranh giới đất được UBND tỉnh Đồng Nai (nay là UBND thành phố Đồng Nai) giao theo Quyết định số 1232/QĐ-UBT, và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Ban Quản lý rừng phòng hộ Xuân Lộc.
2. Một số quy định luật Lâm nghiệp kể từ ngày 01/01/2019:
Ngày 01/01/2019, Luật Lâm nghiệp 2017 có hiệu lực thi hành; một số văn bản dưới Luật của Chính phủ, các Bộ, Ngành về lâm nghiệp được ban hành; theo đó, có một số quy định mới hoặc được điều chỉnh như sau:
1) Các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động lâm nghiệp: Điều 9, Luật Lâm nghiệp quy định như sau:
- Chặt, phá, khai thác, lấn, chiếm rừng trái quy định của pháp luật.
- Đưa chất thải, hóa chất độc, chất nổ, chất cháy, chất dễ cháy, công cụ, phương tiện vào rừng trái quy định của pháp luật; chăn, dắt, thả gia súc, vật nuôi vào phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của rừng đặc dụng, rừng mới trồng.
- Săn, bắt, nuôi, nhốt, giết, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán động vật rừng, thu thập mẫu vật các loài thực vật rừng, động vật rừng trái quy định của pháp luật.
- Hủy hoại tài nguyên rừng, hệ sinh thái rừng, công trình bảo vệ và phát triển rừng.
- Vi phạm quy định về phòng cháy và chữa cháy rừng; phòng, trừ sinh vật gây hại rừng; quản lý các loài ngoại lai xâm hại; dịch vụ môi trường rừng.
- Tàng trữ, mua bán, vận chuyển, chế biến, quảng cáo, trưng bày, xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập, quá cảnh lâm sản trái quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
- Khai thác tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên khoáng sản, môi trường rừng trái quy định của pháp luật; xây dựng, đào, bới, đắp đập, ngăn dòng chảy tự nhiên và các hoạt động khác trái quy định của pháp luật làm thay đổi cấu trúc cảnh quan tự nhiên của hệ sinh thái rừng.
- Giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng, chuyển loại rừng, chuyển mục đích sử dụng rừng trái quy định của pháp luật; cho phép khai thác, vận chuyển lâm sản trái quy định của pháp luật; chuyển đổi diện tích rừng, chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng trái quy định của pháp luật; phân biệt đối xử về tôn giáo, tín ngưỡng và giới trong giao rừng, cho thuê rừng.
- Sử dụng nguyên liệu trong chế biến lâm sản trái quy định của pháp luật.
Tổ chức, cá nhân vi phạm các hành vi nêu trên sẽ bị xử lý theo quy định hiện hành của nhà nước (quy định tại Nghị định 35/2019/NĐ-CP, Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Lâm nghiệp hoặc mức độ nghiêm trọng sẽ bị khởi tố hình sự).
2). Về trồng rừng
Theo thông tư số 17/2022/TT-BNNPTNT ngày 27 tháng 10 năm 2022 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 29/2018/TT-BNNPTNT ngày 16 tháng 11 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định về các biện pháp lâm sinh quy định “ mật độ cây trồng chính trong rừng phòng hộ tối thiểu là 600 cây/ha”.
3) Về khai thác lâm sản trong rừng trồng phòng hộ
Theo quy định tại điểm c khoản 3 điều 20 Nghị định 156/2018/NĐ-CP và Nghị định số 91/2024/NĐ-CP quy định về phương thức khai thác: “Khai thác chọn cây trồng chính với cường độ mỗi lần không quá 20% trữ lượng trong lô, sau khai thác bảo đảm độ tàn che tối thiểu là 0,6 và phân bố đều trong lô. Khai thác trắng theo băng với chiều rộng băng không quá 30 m; khai thác trắng theo đám với diện tích đám khai thác không quá 3 ha”.
Đề nghị các hộ dân đăng ký kế hoạch khai thác với Ban Quản lý rừng phòng hộ Xuân Lộc chủ động lập phương án trình Sở Nông nghiệp và Moi trường thành phố Đồng Nai phê duyệt theo đúng quy định.
4) Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng
Ngày 16/11/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 156/2018/NĐ-CP về Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật lâm nghiệp. Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng được quy định cụ thể tại Điều 57 đến Điều 86, Chương V của Nghị định.
- Đối tượng phải chi trả DVMTR : Tất cả các tổ chức, cá nhân có sử dụng và hưởng lợi từ DVMTR đều phải chi trả tiền DVMTR, bên sử dụng DVMTR là đối tượng phải chi trả tiền
- Đối tượng được nhận tiền DVMTR: Tất cả các tổ chức, cá nhân có diện tích rừng cung ứng DVMTR đều được nhận tiền DVMTR thông qua tài khoản ngân hàng hoặc giao dịch thanh toán điện tử (ViettelPay), trong đó “ Các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư có hợp đồng nhận khoán bảo vệ rừng ổn định lâu dài với các chủ rừng là tổ chức nhà nước”
Như vậy, Chi trả DVMTR là quan hệ cung ứng và chi trả giữa bên sử dụng DVMTR trả tiền cho bên cung ứng DVMTR; các hộ dân sử dụng đất trong lâm phận BQL rừng phòng hộ Xuân Lộc là bên cung ứng DVMTR nên được nhận tiền của bên sử dụng DVMTR, đây là quyền lợi của bà con nhận khoán sử dụng đất.
Tác giả: HOÀNG LÂM
Những tin cũ hơn
Hôm nay
Tổng lượt truy cập